Tế bào gốc: sự lựa chọn hàng đầu giúp điều trị đột quỵ

Đột quỵ (cerebral stroke) còn được gọi là "trúng gió" hoặc "tai biến mạch máu não" (cerebralvascular accident,CVA). Đây là một bệnh mạch máu não cấp tính, một nhóm bệnh gây tổn thương mô não do vỡ mạch máu đột ngột trong não hoặc do tắc mạch máu dẫn đến máu không được cung cấp cho não, bệnh chia ra làm 2 loại là đột quỵ thiếu máu cục bộ và đột quỵ xuất huyết. Vì thiếu biện pháp điều trị hiệu quả nên phòng ngừa được coi là biện pháp tốt nhất, ngoài ra cao huyết áp cũng là một nguy cơ quan trọng cần được kiểm soát để tránh đột quỵ.

Cơ chế điều trị đột quỵ

Các cơ chế cơ bản liên quan đến liệu pháp tế bào gốc điều trị đột quỵ bao gồm chống apoptosis, chống viêm, thúc đẩy tái tạo mạch máu và thần kinh, hình thành các tế bào thần kinh mới và các mạch thần kinh, bảo vệ các chất chống oxy hóa và hàng rào máu não. Các loại tế bào gốc thường được sử dụng trong nghiên cứu điều trị đột quỵ là tế bào gốc ngoại sinh và tế bào gốc thần kinh nội sinh. Tế bào gốc ngoại sinh bao gồm tế bào gốc phôi thai, tế bào gốc tạo máu, tế bào gốc thần kinh, tế bào gốc trung mô và tế bào gốc đa tiềm năng cảm ứng.

Liệu pháp tế bào gốc có thể giúp bệnh nhân đột quỵ phục hồi

Vào năm 2014, trên tạp chí “Tế bào gốc chuyển hóa y học tế bào gốc” (Stem Cells Translational Medicine)đã đăng tải một báo cáo nghiên cứu lâm sàng về sử dụng tế bào gốc để điều trị đột quỵ, nghiên cứu đã chỉ ra tính khả thi của liệu pháp này trong điều trị lâm sàng.

Các nhà nghiên cứu đã chọn ra 5 bệnh nhân bị đột quỵ thiếu máu cục bộ cấp tính nghiêm trọng để tiến hành điều trị tế bào gốc CD34 + trong 7 ngày phát bệnh. Các tế bào gốc được sử dụng để điều trị là tế bào tự thân từ tủy xương của bệnh nhân. Sau khi điều trị, các nhà nghiên cứu đã quan sát bệnh nhân trong 6 tháng. Kết quả cho thấy cả 5 bệnh nhân tiếp nhận tốt liệu pháp tế bào gốc, không có biến chứng và không tái phát đột quỵ. Tất cả các bệnh nhân có cải thiện với mức độ khác nhau về điểm số chức năng não và kiểm tra hình ảnh sau điều trị. Sau 6 tháng, hình ảnh cộng hưởng từ cho thấy vùng tổn thương não giảm 28%. Ngoài ra, trong quá trình theo dõi bệnh nhân không có hiện tượng xuất hiện khối u hay dị tật mạch máu khác thường.